Môi trường nhân tạo trong đô thị (P3)

Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo (P2)

Con người là một thực thể sinh vật nhưng con người hơn mọi vật khác là có ý thức và có khả nãng sáng tạo ra thế giới vật chất xung quanh mình, nhưng những sáng tạo đó phải có bàn tay, khối óc và phải có sự điều khiển chung của tri thức con người. Trong xây dựng đô thị cũng vậy, muốn có sự hoà nhập giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo trong một cơ thể đô thị thống nhất thì nhất thiết phải có trí tuệ con người. Như vậy trong mối quan hệ này, con người tuy là yếu tố trung gian nhưng đóng vai trò quan trọng có tính chất quyết định trong việc điều chỉnh để giữ vững sự tương xứng, hoà đồng giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, giữ vững cân bằng sinh thái. Sở dĩ con người đóng vai trò quyết định vì con người vừa là kẻ bị tác động, vừa là kẻ gây ra tác động trong mối quan hệ này (hình 2.7) [9].

Môi trường nhân tạo trong đô thị (P3) 1

Hình 2.7. Mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và môi trường nhân tạo
 

Ai cũng biết là môi trường thiên nhiên tự nó vốn có một sự cân đối hài hoà và gần như lý tưởng, nhưng “tất cả những gì do con người tạo ra – môi trường nhân tạo – đã là cho thế cân bằng đó trong thiên nhiên bị phá vỡ, và kẻ gieo gió đã bắt đầu gặt những mùa bão đầu tiên”. Những mùa bão đó là nạn ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn, sự thiếu hụt cây xanh mặt nước do bị thay thế dần bằng những khối bê tông gạch lát, nhựa dường (là những vật liệu hấp thụ nhiệt), đã làm cho chế độ trao đổi nhiệt bình thường bị đảo lộn, hơi nước không có lối thoát; đồng thời nhiệt, khí độc hại từ các nhà máy xí nghiệp trong đô thị thải ra làm cho nhiêt độ không khí trong đô thị cao hơn 1- 2°c về mùa nóng và thấp hơn 1-2°c về mùa lạnh và theo quan trắc thì trái đất có xu hướng nóng dần. Trong môi trường đô thị, việc sử dụng các lớp phủ không thấm nước, các mặt phủ đường, các khối bê tông xây lắp, mái nhà, việc xây dựng hệ thống thoát nước .v.v… đã làm giám rõ rệt hệ số thấm nước và độ ngấm của nước mặt, dẫn đến sự thay đối điều kiện tự nhiên của dòng cháy. Chính sự thay đổi đó và việc khai thác quá mức tầng chứa nước đã dẫn đến hạ thấp mực nước ngầm gây nên lún đất. Hà Nội cũng bắt đầu có hiện tượng sụt lún do khai thác nước ngầm có nơi đến 30mm/năm như khu vực bao quanh nhà máy nước Pháp Vân [6]. Đó chính là cái giá mà con người phải trá cho những hành động của mình, đã làm thay đổi điều kiện tự nhiên, làm mất tính cân đối giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo. Vì vậy, việc phát triển nhanh những khối môi trường nhân tạo khổng lồ – “thiên nhiên thứ hai” bao quanh con người, đòi hói phải chú ý đặc biệt đến tính quy luật quan hệ tương hỗ của môi trường với các quá trình sinh hoạt của xã hội và các vấn đề quan hệ giữa môi trường với thiên nhiên và con người. Phải luôn gắn chặt thiên nhiên trong đô thị và đô thị trong thiên nhiên. Đó chính là vấn đề cơ bản của quy hoạch đô thị, là chất lượng của môi trường đô thị, thiếu yếu tô’ thiên nhiên và không dựa trên nền tảng tự nhiên môi trường dô thị như một cơ thể không có hồn và thiếu lành mạnh. Vì vậy những đô thị đầy đủ tiện nghi, với tầng tầng, lớp lớp nhà tháp nhà chọc trời mà thiếu vắng cây xanh, mặt nước, thiếu đường dạo, tiêu cảnh, thiếu những công trình kiến trúc cổ, danh thắng v.v… Sẽ làm con người hoảng sợ và chán nản bỏ đi ra ngoại ô tìm hơi thở của thiên nhiên, gió mát và môi trường trong lành, sự yên tĩnh. Đó là sự quý giá của thiên nhiên. Do quan hệ môi trường tự nhiên – con người – môi trường nhân tạo là công thức chi phối và bao trùm suốt quá trình thiết kế quy hoạch đô thị.

Quy mô không gian của môi trường đô thị

Khái niệm về môi trường đô thị rất rộng lớn, được sắp xếp theo hệ thống tầng bậc từ quy mô căn hộ ở và nơi làm việc đến quy mô toàn cầu. Tổ chức Ủy ban kinh tế xã hội châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) cho rằng có 5 quy mô không gian liên quan đến môi trường đô thị là: không gian căn hộ ở và nơi làm việc, không gian công cộng, không gian đô thị, không gian vùng lãnh thố quốc gia và không gian toàn cầu