Cây xanh mặt nước trong các công trình kiến trúc và chỉ số đánh giá mật độ cây xanh trong thành phố

cây xanh mặt nước trong các Công trình kiến trúc [13]

Trong kiến trúc truyền thống, không có một loại hình công trình nào thiếu sự gắn bó với cây xanh mặt nước, từ nhà ở tới các công trình công cộng và tôn giáo. Những cụm từ cây đa – bến nưóc – sân đình, sân chùa – bóng đại, khóm trúc – thư phòng cho chúng ta thấy sự hoà quyện khãng khít giữa công trình và cảnh quan thiên nhiên ở kiến trúc truyền thống Việt nam.

Kiến trúc hiện đại Việt Nam không thể ỷ lại vào công nghệ điều tiết khí hậu để trở thành những “cái hộp” khô cứng và cũng rất có hại cho những người làm việc, sinh hoạt bên trong.

Cây xanh mặt nước có thể tham gia đóng góp vào các công trình kiến trúc ở hai khía cạnh: ngoại thất và nội thất.

Về ngoại thất ở hầu hết các công trình kiến trúc dàn dụng đều được tổ chức cây xanh, mặt nước ngoài nhà. Các công trình càng nhiều tầng tỷ lệ diện tích trồng cây càng lớn, tỷ lệ này có thể chiếm 30-40% đối với nhà cao tầng [13].

Việc phối kết các loại cây xanh ngoại thất là tuỳ thuộc vào từng công trình cụ thể , từng kiến trúc sư tác giả, song cũng cần lưu ý ở những diện tích cây xanh tương đối lớn mới cho phép phối kết đủ các loại cây và phải tuân thủ nguyên tắc: Cây thân gỗ có tán rộng nên trồng cách công trình một khoảng nhất định tuỳ thuộc bề rộng tán lá, tránh để tán lá rậm rạp cản trở việc đưa ánh sáng tự nhiên vào trong công trình cũng như hạn chế tầm nhìn từ các cửa sổ. Tới khoảng cách gần công trình, độ cao và độ rậm rạp của cây xanh nên giảm, chỉ nên phối kết các loại cây bụi, bồn hoa, thảm cỏ ở khu vực này.

Hình thức dàn cây leo (thẳng đứng hặc nằm ngang) cũng nên được sử dụng rộng rãi trong các công trình kiến trúc, đặc biệt là nhà ở khách sạn. Dàn cây có tác dụng che nắng cho các kết cấu bao che, đồng thời cải thiện điều kiện vi khí hậu và nâng cao giá trị thẩm mỹ của các công trình kiến trúc.

Mật nước có thể tổ chức kết hợp với cây xanh ngoại thất ở dạng bổn nước tĩnh hoặc động. Ở những diện tích không lớn chỉ nên bố trí bồn nước tĩnh, còn với diện tích lớn bồn nước động tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn.

Cây xanh ngoại thất có thể được đưa dần vào trong công trình theo nhiều hình thức. Ở các toà nhà lớn dạng thấp nên bố trí lối cây xanh mặt nước: đó có thể là những không gian lớn thông tầng có mái trong suốt bao lấy một vườn cây trong nhà. Ở đây có thể phối kết nhiều loại cây bụi, bồn hoa, thảm cỏ cùng với các loại bồn nước tĩnh hoặc động và các hình thức tiểu cảnh khác. Vườn nên có mối liên hệ với không gian ngoại thất thông qua các sảnh lớn cũng được trang trí bởi các bồn cây.

Trên các tầng hay cụm tầng nên tổ chức những không gian xanh tạo ra những sân trời bên trong công trình vừa cải tạo điều kiện vi khí hậu vừa cải thiện thoả đáng sự thoải mái thị giác của những người làm việc, sinh hoạt trong đó.

Cũng có thể tổ chức cây xanh trên bề mặt công trình nhờ những ban công, lôgia trồng cây xanh. Những hình thức cây xanh mặt đứng này nếu được tổ chức một cách có chủ định có thể nâng cao đáng kể giá trị thẩm mỹ của công trình.

Cày xanh mặt nước không thể vắng bóng trong nhà ở Việt Nam. Mỗi căn hộ cần có khoảng xanh riêng. Ở những căn hộ có tiêu chuẩn trung bình có thể tạo ra những ban công hoặc lôgia sân nhằm biến nơi đây thành những vườn cây gia đình. Những hình thức cây cảnh – non bộ theo thú chơi truyền thống của người Việt Nam rất thích họp với loại không gian này. Vối những căn hộ tiêu chuẩn cao nên bố trí cho mỗi căn hộ một không gian xanh trống tầng tạo ra những thiên nhiên như trong ngôi nhà.

Việc tổ chức phối hợp những ban công cây xanh và các không gian xanh trống tầng sẽ tạo ra cho bộ mặt các chung cư vẽ sinh động và tính cách riêng cho từng chung cư. Với những chung cư cao tầng, khả năng tiếp xúc với cảnh quan thiên nhên ở các tầng trên tỏ ra khó khăn, và vậy việc tổ chức các sân trời-những không gian cây xanh mặt nước sử dụng chung cho một số cụm tầng trên cao là việc làm cần thiết.

Đối với hệ thống vườn cây trong hàng rào công trình: Các vườn cây trong hàng rào công trình có vai trò rất quan trọng, không những về mặt thẩm mỹ kiến trúc mà còn về mặt khí hậu và môi trường, vì các vườn cây này nằm rãi rác khắp nơi và trực tiếp với đời sống, sinh hoạt và làm việc của con người.

Cần hết sức chú ý đến các vườn cây trong các nhà máy, trường học, bệnh viện, các công trình công cộng và các biệt thự. Yêu cầu đối với vườn cây trong mỗi công trình có khác nhau, vì vậy cần phải tìm hiểu đặc tính lý – hoá sinh của các loại cây xanh. Ví dụ đối với bệnh viện nên chọn các loại cây có tính sát trùng, đối với nhà máy nên chọn các loại cây có khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm môi trường, đối với các trường học nên chọn các loại cây bóng mát, giảm bức xạ mặt trời v.v…

Chỉ số đánh giá mật độ cây xanh trong thành phố

Người ta thường nói đến quy định chỉ số diện tích đất cây xanh trên mỗi đầu người dân thành phố. Chúng ta thấy rằng chỉ số này chưa hoàn thiện và chưa phản ánh đúng các hiệu quả tác dụng của cây xanh đối với khí hậu và môi trường, mặt khác ở thành phố phát triển, mật độ dân cư có thể tăng bằng cách phát triển thành phố theo chiều cao, còn diện tích cây xanh thì không thể “lên tầng được”. Như vậy sẽ xảy ra một điều không hợp lý là thành phố thưa dân thì thừa đất để trồng cây xanh, còn ở thành phố đông dân thì không thể kiếm đâu ra đất trồng cây xanh để cho đạt bình quân diện tích cây xanh trên mỗi đầu người dân [5],

Vì vậy nên dùng thêm (bổ sung) các chỉ tiêu thứ hai là tỷ lệ diện tích được phủ cây xanh trên tổng diện tích thành phố làm chỉ số khống chế, để đánh giá mức độ tiện nghi phục vụ nghỉ ngơi, giải trí cũng như tiện nghi vi khí hậu và môi trường thành phố. Cần phải tiến hành nghiên cứu để xác định tỷ lệ này cho hợp lý đối với thành phố ở mỗi vùng khí hậu khác nhau (đồng bằng, trung du, miền núi…) Theo tài liệu nước ngoài tỷ lệ này có thể giao động khoảng 6-15%. Các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương đã quy định diện tích cây xanh trong các khu công nghiệp mới, ít nhất phải chiếm 15% diện tích toàn khu [5].