Quy trình và đặc điểm quy hoạch môi trường

Quy trình quy hoạch môi trường

Cách tiếp cận hệ thống dường như rất thích hợp cho quy trình quy hoạch. Trường phái giải quyết vấn đề dựa trên cách tiếp cận hệ thống thường được áp dụng trong nhiều loại quy hoạch khác nhau.

Mô hình tuyến tính gồm nhiều bước, mỗi bước tiếp theo sẽ được thực tiện nếu hoàn thành bước trước. Quy trình kỹ thuật này (sơ đồ hình 3.1) rất phù hợp cho những trường hợp mục tiêu đã được xác định một cách rõ ràng, quy mô khu vực nhỏ, đặc biệt ở cấp dự án và khi số người tham gia vào quá trình quyết định là không nhiều. Cách tiếp cận “mục tiêu tốt nhất” (đã xác lập) trong quy trình của McHarg (1969) là một ví dụ điển hình cho quá trình “làm quyết định có tính kỹ thuật”.

 

Quy trình và đặc điểm quy hoạch môi trường 1

Hình 3.1. Sơ đồ mô hình tuyến tính [18]


Quy trình quy hoạch hợp lý. Thực tế cho thấy, quy trình quy hoạch sẽ khác nhau ít nhiều, đòi hỏi phải có quá trình thử nghiệm và đánh giá lại. Do đó, quy trình quy hoạch mới, thay cho mô hình cổ điển ở trên, là cách tiếp cận quy hoạch có điều chỉnh.

Nói chung quy trình quy hoạch này phức tạp hơn; nó đặc biệt chú ý đến việc đưa ra các phương án lựa chọn, đánh giá, phản hồi. Sơ đồ tổng quát của quy trình quy hoạch hợp lý được minh hoạ như hình 3.2.

Quy trình và đặc điểm quy hoạch môi trường 1

Hình 3.2. Sơ đồ tổng quát quy trình quy hoạch [18]

–      Thiết lập mục tiêu;Quy trình quy hoạch này bao gồm các bước:

–      Phân tích;

–      Phát triển các phương án lựa chọn;

–      Đánh giá các phương án theo mức độ đạt tới mục tiêu;

–      Chọn phương án hiệu quả nhất, nếu không tồn tại thì quay lại bước 2;

–      Thực hiện và giám sát.

Khi áp dụng vào thực tế, tùy theo trường hợp cụ thể, quy trình quy hoạch trong mỗi lĩnh vực đặc thù sẽ thê hiện tính hợp lý về kinh tế, chính trị, luật pháp, xã hội hay sinh thái khác nhau. Tuy nhiên, nói chung nó vẫn tương tự như mô hình quy hoạch hợp lý nêu trên.

Quy trình quy hoạch môi trường (QHMT) về cơ bản cũng tương tự như trong các lĩnh vực quy hoạch khác, mặc dù khái niệm môi trường thường được hiểu là đi liền với thiên nhiên hay các hiểm họa môi trường.

Các bước cơ bản trong nghiên cứu quy hoạch môi trường là:

1.  Xác định phạm vi quy hoạch, đối tượng quy hoạch;

2.      Điều tra, thu thập các thông tin vể điều kiện môi trường;

3.      Phân tích đánh giá hiện trạng tài nguyên môi trường (đánh giá tài nguyên, đánh giá hiểm họa và đánh giá tính thích hợp cho phát triển; điều kiện tài nguyên, chất lượng môi trường, tai biến môi trường, tác động môi trường, v.v…);

Dự báo biến đổi môi trường;

Xem xét các khía cạnh môi trường quan tâm và xác định những vấn đề môi trường bức xúc;

4.      Hình thành mục tiêu;

5.      Thiết kế quy hoạch;

6.      Đánh giá phương án, đánh giá tác động môi trường dự án;

7.      Đề xuất giải pháp quản lý nhằm thực hiện phương án quy hoạch đề xuất.

Quy trình và đặc điểm quy hoạch môi trường 1

Hình 3.3. Quy trình quy hoạch môi trường [18]

Đặc điểm của quy hoạch môi trường

Quy hoạch môi trường có một số đặc điểm như sau:

Quan điểm hệ sinh thái. Quan điểm này xem xét con người trong tự nhiên hơn là tách khỏi nó; nghĩa là nhấn mạnh mối tương tác giữa con người

với các hệ sinh thái tự nhiên và rộng hơn là sinh quyển. Các dạng quy hoạch khác có xu hướng tập trung hẹp hơn.

–  Tính hệ thống. Xem xét tổng thể các thành phần liên quan, tập trung vào các thành phần chủ chốt và các mối quan hệ của chúng, thừa nhận các hệ thống là mở, tương tác với môi trường; nhận biết sự liên hệ và phụ thuộc giữa các hệ thống.

–  Tính địa phương. Từ “môi trường” nhấn mạnh tính đặc trưng của mỗi địa phương, tuy nhiên cần thiết phải xem xét các thành phần môi trường và sự biến đổi môi trường trong một phạm vi lớn hơn.

–  Tính biến đổi theo thời gian. Xem xét sự thay đổi môi trường theo các chu kỳ khác nhau, dài và ngắn, quá khứ và tương lai. Nếu quỹ thời gian không hợp lý, quy hoạch môi trường sẽ không đạt được mục tiêu đã đặt ra. Các dạng quy hoạch khác thường có trục thời gian ngắn hơn.

–  Tính chất hướng vào tác động. Nghiên cứu xem xét đầy đủ những ảnh hưởng môi trường do hoạt động của con người và sự phân bố của chúng (ai được lợi, ai phải chi trả). Các dạng quy hoạch khác thường có “định hướng đầu vào”, tập trung chủ yếu vào dữ liệu, mục tiêu và kế hoạch hơn là vào “tác động” của các hoạt động phát triển.

–  Tính phòng ngừa. Khuynh hướng chủ đạo trong chiến lược QHMT là “nhu cầu bảo tồn”, trong đó nó tập trung vào việc làm giảm nhu cầu đối với các hàng hóa hay dịch vụ có khả năng gây ra các stress hơn là việc chấp nhận các “nhu cầu” như là đã “đặt ra” từ trưóc và cố gắng tập trung vào việc làm giảm thiểu hay loại bỏ các ảnh hưởng môi trường.