Quản lý môi trường không khí và môi trường nước (P3)

c) Sử dụng các công cụ kinh tê trong Quản lý môi trường nước

Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nước được cụ thể hoá bằng hệ thống lệ phí ô nhiễm nước. Các lệ phí ô nhiễm này là công cụ quan trọng, bố sung cho các công cụ pháp lý, kiểm soát ô nhiễm trực tiếp, nhằm khuyến khích những người gây ô nhiễm môi trường nước giảm bớt lượng xả thải gây ô nhiễm. Ở nước ngoài thường sử dụng hai loại phí để kiểm soát ô nhiễm nước là phí xả thải nước và phí người sử dụng.

– Phí xả thải nước: ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng thành công phí xả thải nước để kiểm soát ô nhiễm nước. Ngay ở Trung Quốc, nước có số dân lớn nhất thế giới, là nước láng giềng của nước ta, đã áp dụng thành công công cụ này. Theo quy định của Nhà nước, tất cả các xí nghiệp hoặc bất cứ cơ sở nào có xả chất ô nhiễm vào môi trường nước đều phải trả phí thải nước.

Phí này chính là phí mua quyền sử dụng môi trường tiếp nhận các chất ô nhiễm xả thải. Phí xả thải nước được xác định trên số lượng, nồng độ và tính chất của các chất ô nhiễm có trong nước thải. Đối với trường hợp các chất thải của nguồn thải vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép thì các cơ sở còn phải trả thêm các phí nưóc thải bổ sung, đồng thời phải có trách nhiệm trong một thời hạn nhất định phải áp dụng biện pháp kiểm tra và xử lý ô nhiễm cho đạt tiêu chuẩn môi trường. Tiền thu phí này được tách một phần nhỏ để chi phí cho công tác quản lý môi trường, số còn lại sẽ nộp vào quỹ môi trường, dùng để hỗ trợ, cho vay nhẹ lãi và khuyên khích các cơ sở đầu tư vào thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường.

Các phí người sử dụng

Đối với các nguồn xả thải gây ô nhiễm môi trường từ các hộ gia đình và các hộ sản xuất nhỏ thì khó xác định lượng xả chất ô nhiễm của mỗi hộ, các cống nước thải của mỗi hộ thường được nối ngầm trực tiếp với hệ thống thoát nước thành phố nên người ta sử dụng loại phí người sử dụng nước hay phí nước thải ra cống, phí này được thu đối với từng hộ gia đình, phí có thể được tính trên giá trị bất động sản khu nhà ở của mỗi hộ, hoặc được tính trên lượng nước cấp tiêu dùng cho mỗi hộ (m3 nước sạch/ngày). Ở Thụy Điển loại phí này được phân thành 2 phần: phần phí cố định tính đồng đểu cho các hộ và phần phí thay đổi, liên quan đến mức tiêu dùng nước của mỗi hộ. Loại phí này còn có tác dụng khuyến khích các hộ gia đình cũng như các hộ sản xuất nhỏ tiết kiệm sử dụng nước sạch, nhưng lại làm tăng nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải. Ở Trung Quốc , tiền phí nước thải ra cống đối với các hộ gia đình hay cơ sở sản xuất được tính góp với tiền mua nước sạch, tức là trong phí mua nước cấp đã bao gồm cả phí xả nước thải ra cống. Cách thu phí này tránh được sự thất thu phí xả thải nước ô nhiễm đối với các hộ hay cơ sớ sản xuất trốn tránh sự kiểm tra và đổ nước thải bất hợp pháp vào sông ngòi, cống, rãnh.

Các khoản trợ cấp

Ở nhiều nước trên thế giới đã dành các khoản trợ cấp, các khoản vay lãi suất thấp hoặc giảm nhẹ thuế để khuyến khích các khoản sản xuất đầu tư kỹ thuật để ngăn chặn lìoặc giảm nhẹ ô nhiễm môi trường nước. Thí dụ như ở Philipin, theo Luật Môi trường ban hành năm 1977 đã cho phép giảm 50% thuế đối với thiết bị kiểm soát ô nhiễm nhập khẩu. Luật này cũng đã quy định giảm thuế cho tất cả thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường được sản xuất trong nước. Nam Tư, Chính phủ đã ban hành quy định miễn thuế cho tất cả thiết bị xử lý môi trường được nhập khẩu cũng như được sản xuất trong nước, o nước ta hiện nay cũng đã quy định miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường. Ở nhiều nước đang phát triển đã áp dụng hình thức trợ cấp hoặc cho vay với lãi suất rất thấp.