Quản lý chất thải rắn đô thị (P2)

b) Tổ chức thu gom và phán loại chất thải rắn tại nguồn

Ớ nhiều nước người ta đã tién hành thu gom và phân loại chất thải rắn tại nguồn. Chất thải rắn từ các hộ hay từ các cơ sở sản xuất đã được phân loại ngay từ nơi sản sinh ra nó. Các chất thải độc hại, chất thải thông thường, chất thải có thể tái sử dụng được có thể phân tách riêng và đựng vào các túi hay các thùng có màu sắc khác nhau. Chất thải độc hại* được tách thu gom, vận chuyển riêng và được đưa đến nơi xử lý chất thải độc hại. Trên đường đến phố và các địa điểm sinh hoạt công cộng đều để sẵn các thùng rác để khách đi trên đường phố không vứt rác ra đường.

Đối với các “xóm liều” trong đô thị, đường sá thường rất hẹp, xe thu rác thường không vào được cần phải giáo dục ý thức và cưng cấp phương tiện cho dân “xóm liều” thu gom rác tại chỗ ở của họ đưa đến địa điểm đổ công cộng và từ địa điểm này có thể thu gom và vận chuyển rác bằng xe đến nơi xử lý rác.

c) Lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn hợp lý

Trên thực tế có 3 công nghệ xử lý chất thải rắn thường dùng là: chôn lấp, làm phân compost và thiêu đốt.

–   Chôn lấp chất thải rắn: là công nghệ đơn giản nhất, đỡ tốn kém nhất nhưng đòi hỏi có diện tích rất lớn. Việc lựa chọn bãi chôn rác là hết sức quan trọng. Theo Dự thảo hướng dẫn của đề tài nghiên cứu về kiểm soát chất thải rắn của Cục Môi trường năm 1998 thì địa điểm bãi chôn rác cần thoả mãn các yêu cầu sau: khoảng cách từ bãi chôn rác đến nơi phát sinh rác 3 – 5km, khoảng cách ly từ bãi chôn rác đến khu dân cư, công trình văn hoá, tôn giáo, giải trí, đến nguồn nước sông suối, giếng khoan gần nhất là > 400m, khoảng cách từ đường giao thông công cộng đến bãi chôn rác là 100 – 300m; khoảng cách từ đáy bãi chôn rác đến tầng nước ngầm có trữ lượng lớn là > 3m.

–    Chế hiến chất thải rắn hữu cơ thành phân compost.

Thành phần chất thải rắn hữu cơ dễ phân huỷ như rau, quả, phế phẩm, thực phẩm thừa, cỏ, lá cây … có thể chế biến dễ dàng thành phàn compost để phục vụ nông nghiệp. Ớ thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng điểm xí nghiệp chế biến phân compost, vừa giảm được diện tích bãi chôn rác, vừa có thêm lượng phân không phải là phân hoá học phục vụ nông nghiệp.

–    Thiêu huỷ chất thải rắn

Xây dựng các lò đốt rác với nhiệt độ cao có thể đốt được chất thải rắn thông thường cũng như chất thải rắn nguy hại trong nhiều trường hợp người ta kết hợp lò đốt rác với sản xuất năng lượng như phát điện, cấp nước nóng. Thiêu huỷ rác có ưu điểm nổi bật là giảm thể tích chất thải phải chôn (xỉ, tro của lò đốt), do đó giảm được diện tích dùng cho bãi thải. Tuy vậy, đầu tư cho nhà máy đốt rác tương đối lớn, giá thành vận hành nhà máy cũng cao, ngoài ra khói thải của nhà máy có tính nguy hại, cần phải xử lý khói thải với công nghệ cao mới bảo vệ được môi trường.

–   Ngoài ra, ở một số nước còn dùng phương pháp bê tông hoá chất thải rắn nguy hại, đổ chất thải nguy hại vào các thùng, bể bọc kín bằng vật liệu kiên cố và chôn sâu dưới đất hoặc vứt xuống đáy biển.

d) Phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn

Phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn là phương cách tốt nhất để giảm nhỏ nhu cầu đất chôn rác và tiết kiệm vật liệu, tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay ở nước ta việc lựa chọn thu gom các chất thải có thể tái sử dụng được chủ yếu là do “đội quân” nhặt rác cá thể, chưa có tổ chức thu gom và nhặt rác có quy mô công nghiệp. Rất nhiều chất thải rắn đô thị và công nghiệp có thể tái sử dụng, tái chế như kim loại vụn, vỏ hộp, giấy, cáctông, chai lọ, các bao bì bằng nilông, đồ gỗ hư hỏng… Cần phải coi việc phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải là có ý nghĩa chiến lược trong quản lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp.

đ) Áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý chất thải

–  Phí người dùng: Phí người dùng được áp dụng phổ biến-ở các dô thị là phí thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị. Phí này được thu từ các hộ gia đình và coi là khoản tiền phải trả cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải, nó được tính trên cơ sở tổng chi phí trực tiếp cho các dịch vụ không tính đến thiệt hại môi trường. Phí này thay đổi tuỳ theo gia đình, phụ thuộc vào túi rác gia đình thải ra. Cách thay đổi này đã khuyến khích các gia đình tái sử dụng chất thải, khó khăn là sự giám sát sự đổ thải chất thải rắn vụng trộm của các hộ thiếu ý hực bảo vệ môi trường.

–  Phí đổ bỏ chất thải rắn: Ớ một số nước áp dụng phí đổ bỏ chất thải rắn chủ yếu là đối với chất thải rắn công nghiệp. Phí này phụ thụoc vào tính chất và lượng chất thải. Đối với các chất thải khó xử lý như lốp xe, cặn dầu thì phải nộp lệ phí cao hơn. Phí này cũng có tác dụng khuyến khích các xí nghiệp cải tiến sản xuất để giảm chất thải.

Các phí sản phẩm và hệ thống kỷ quỹ hoàn trả: Phí sản phẩm đánh vào sản phẩm có bao bì không trả lại như bao bì dầu nhờn, phân bón, thuốc trừ sâu, các lốp xe, các nhiên liệu ô tô. Hệ thống ký quỹ hoàn trả được áp dụng phổ biến nhất là đối với đồ uống như chai hộp rượu, bia, nước giải khát để khuyến khích tái sử dụng lại các vỏ hộp, vỏ chai. Người sử dụng phải ký quỹ tiền các vỏ hộp, vỏ chai khi mua, khi dùng xong đem các vỏ hộp, chai trả sẽ nhận lại số tiền trên. Ớ Mỹ quy định mua 1 ắcquy ô tô phải ký quỹ 5 đôla, nếu đem ắcquy cũ đến cửa hàng để mua ắcquy mới thì không phải nộp tiền ký quỹ.

–  Các khoản trợ cấp: Nhà nước cung cấp các khoản trợ cấp cho các cơ quan và các khu vực tư nhân tham gia vào quản lý chất thải rắn như trợ cấp nghiên cứu và lập kế hoạch quản lý chất thải rắn, trợ cấp cho việc phát triển lắp đặt công nghệ sản xuất thải ra ít chất thải hơn, trợ cấp, hỗ trợ giá hoặc ưu đãi miễn thuế đối với công nghiệp tái chế, tái sử dụng chất thải…