Môi trường tự nhiên của đô thị (P2)

Nội dung bài viết:

b) Nước trong đô thị

Nước là tài nguyên thiên nhiên, là nhân tố không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy nước được coi là tài nguyên đặc biệt. Trong đô thị nơi tập trung dân cư đông đúc nước càng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ bởi khả năng cấp nước mà còn cả về chất lượng nước (nước cấp, nước thải) để phục vụ cho con người.

–  Về nguồn nước: Hiện nay tổng lượng nước trên trái đất là 1500 triệu km\ trong đó nước ngọt chiếm 20% nhưng chỉ có một phần nhỏ lượng nước đó (0,003%) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sự sống trên hành tinh [26].

Ớ nước ta tài nguyên nước (cả nước mặt và nước ngầm) rất phong phú nhưng phân bố không đểu. Hệ thống sông ngòi dày đặc với khoảng 2360 con sông, lượng mưa trung bình hàng năm là 1960mm, sinh ra dòng chảy lên đến 324nr/nãm [6], Nguồn nước ngầm tương đối tốt về chất lượng và trữ lượng. Riêng ở Hà Nội trữ lượng nước ngầm đủ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng cả hiện tại và tương lai. Nghiên cứu quy hoạch cấp nước cho Hà Nội đến năm 2010 khẳng định là “đến năm 2010, xét về góc độ địa chất thuỷ văn Hà Nội hoàn toàn đáp ứng và thoả mãn nhu cầu dùng nước khoảng 700.000mVngày- đêm. Nguồn nước tự nhiên tuy dồi dào nhưng phân bố không đều giữa các vùng và giữa các mùa trong năm. Ví dụ trong khi miền Trung hạn khô tháng 5,6,7,8, thì miền Bắc lại mưa nhiều, ngập lụt, cũng vùng đó có thời kỳ ngập lụt, có thời kỳ khô hạn. Đó cũng là khó khăn trong việc duy trì nguồn nước để đảm bảo cung cấp nước đầy đủ cho các đô thị.

–  Về bảo vệ nguồn nước: Trong quá trình đô thị hoá, với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì nhu cầu dùng nước rất lớn. Theo tính toán sơ bộ tống nhu cầu dùng nước cho các đô thị ở Việt Nam gần 7 triệu m3 ngày-đêm (năm 2005).

Do mục tiêu hàng đầu là bảo vệ nguồn nước không bị cạn kiệt và không bị ô nhiễm. Muốn đảm bảo được nhu cầu đó cần phải thực hiện việc sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm, phải xử lý nước thải trước khi thải ra sông hồ và cần phải dùng nước tuần hoàn, đồng thời phải thiết lập vành đai bảo vệ nguồn nước mặt và nước ngầm cung cấp nước cho đô thị.

– Về ô nhiễm nguồn nước:

Trong đô thị dân cư tập trung đông đúc với tất cả mọi hoạt động (công nghiêp, thương nghiệp, dịch vụ, vui chơi giải trí…) đã thải ra một lượng nước thải đáng kể bao gồm nước thải sản xuất, sinh hoạt, nước tưới rửa đường cây cối…Nếu không tập trung và xử lý tốt thì chính những loại nước này sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nước (vì trong nước thải đô thị có nhiều cặn lắng lơ lửng, chất hữu cơ và chất độc hại, dầu mỡ và các vi trùng gày bệnh). Các chất bẩn trong nước thải được chia ra hai nhóm: Nhóm các chất bẩn bền vững và không bền vững.

Các chất bẩn bển vững khó phân huỷ sẽ tích tụ trong nước sông sau mỗi lần xả nước thải, đồng thời tích tụ trong động vật bậc cao, gây nguy hại cho sức khoẻ của con người (nếu họ ăn phải các động vật đó) “Nếu chất bền vững không tham gia vào chuỗi thức ăn trong hệ sing thái thuỷ vực hoặc không lắng xuống bùn đất thì khối lượng của nó tăng dần và bằng tổng khô’i lượng trong nước sông ban đầu. Đối với các chất bẩn không bền vững, nồng độ của chúng giảm dần theo chiều dài sông và tăng đột ngột sau mỗi lần xả nước thải. Nước thải đô thị còn tác động đến hệ sinh thái thủy vực nước ngọt tức là làm thay đổi chế độ ôxy trong đó. Quá trình này tiêu thụ một lượng ôxy rất lớn nên lượng ôxy hoà tan trong sông hồ giảm đột ngột, đổng thời với quá trình tiêu thụ ôxy là sự hoà tan ôxy từ khí quyển qua ranh giới nước- khí. Sau một thời gian nhất định lượng oxy hoà tan trong nước tăng lên. Khu vực có hàm lượng ôxy hoà tan thấp nhất thường là nơi nguồn nước bị ô nhiễm nặng nhất. Trong môi trường nước thải nhiều chất hữu cơ, các loại vi khuẩn luôn tồn tại. Khi vào nguồn nước chúng có thể bị tiêu diệt hoặc tiếp tục phát triển (do đã thích nghi)[31].