Đô thị sinh thái

đô thị sinh thái

Năm 1975, Richard Register và một số người bạn đã sáng lập ra tổ chức “Sinh thái học đô thị” (Urban Ecology) tại Berkeley, California và hoạt động phi lợi nhuận với mục đích tái cơ cấu lại quy hoạch đô thị cho phù hợp với hệ thống tự nhiên và từ đó xuất hiện thuật ngữ đô thị sinh thái.

Đô thị sinh thái là đô thị mà trong quá trình tồn tại và phát triển của nó không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái môi trường, không gây tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng và tạo điều kiện thuận tiện cho mọi người sống, sinh hoạt và làm việc trong đô thị. Có thể hiểu rằng đô thị sinh thái là một đô thị mà mọi hoạt động kinh tế — xã hội của nó đều phải tính đến các yếu tố sinh thái, xảy ra trong giới hạn sinh thái, sao cho đảm bảo rằng đưa con người tiến gần tới thiên nhiên, hoà hợp vào thiên nhiên trong sự phát triển. Điều đáng nhấn mạnh là phải phòng tránh ô nhiễm, tái sử dụng, tái chế và sử dụng có hiệu quả nguồn năng lượng và tài nguyên. Chất thải rắn tính theo đầu người phải được giảm đáng kế và ít nhất 60% của những gì sản xuất ra phải được tái sử dụng, tái chế hoặc làm phân rác Ị18].

Đô thị sinh thái luôn hướng mạnh đến thiên nhiên và dựa trên các nguyên lý về sinh thái học. Đô thị sinh thái là mô hình lý tưởng cho sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, đảm bảo các chức năng của con người trong một hệ thống sinh thái thuần khiết.

Từ các khái niệm trên, có thê hiểu một cách khái quát thành phố sinh thái hay thành phố xanh cần đảm bảo:

–      Nguyên liệu và năng lượng dược sử dụng có hiệu quả;

–      Ô nhiễm và chất thải phải ít hơn nhiều so với những thành phố bình thường;

–      Tái sử dụng, tái chế chất thải;

–      Sử dụng có hiệu quả cao nguồn năng lượng và tài nguyên

–     Thân thiện với thiên nhiên.

Đô thị sinh thái 1

Hình 1.1. Không gian của Đô thị sinh tliái. Nguồn [18].

Xây dựng các đô thị sinh thái là mục tiêu của Nhà nước đã được vạch ra trong chương trình nghị sự 21 của Việt nam.

Sau hơn 20 năm phát triển, tổ chức sinh thái đô thị (Urban Ecology) đã đề ra 10 nguyên tắc cơ bản đê tiến tới một đô thị sinh thái:

1.  Chú ý xem xét đến quyền sử dụng đất tại các nút giao thông nhằm có được thỏa thuận với lợi ích chung cho cộng đồng.

2.  Phân cấp mức ưu tiên giao thông đối với người đi bộ, xe đạp hay ô tô đồng thời quy dịnh rõ khu vực hoạt động nhất định với mỗi loại hình giao thông.

3.  Thiết kế và áp dụng mô hình ngôi nhà, sao cho vừa tao nhã, tiện lợi, kinh tế nhưng vẫn mang đậm bản sắc dân tộc.

4.  Thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, tránh lãng phí.

5.  Khôi phục lại trạng thái môi trường đô thị đặc biệt tại các con kênh, rạch chảy qua thành phố và nhất là các vùng đất ngập nước.

6.  Hỗ trợ phát triển nông nghiệp bản địa, xúc tiến các dự án xanh hóa đô thị, phát triển các hội làm vườn.

7.  Thúc đẩy tái sử dụng, khuyến khích áp dụng công nghệ mới đồng thời bảo tồn thiên nhiên, giảm thiểu các dạng ô nhiễm và tái chế rác thải.

8.  Kêu gọi đầu tư vào các hoạt động xanh, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm và tạo ra chất thải nguy hại.

9.  Đảm bảo công bằng xã hội, tạo cơ hội phát triển hơn cho người phụ nữ, người da màu và những người khuyết tật.

10.  Tăng cường hiểu biết của mọi người về môi trường khu vực họ đang sống thông qua các nhà hoạt động xã hội, các dự án nâng cao nhận thức về phát triển bền vững.

Quy hoạch phát triển đô thị theo hướng sinh thái là một khuynh hướng hiện đại. Từ khi xuất hiện đến nay, nhiều mô hình thử nghiệm xây dựng đô thị sinh thái đã diễn ra khắp nơi trên thế giới; từ Mỹ, Canada, úc, các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu đến các nước châu Mỹ La Tinh, châu Phi, Hàn Quốc, Nhật Bản; riêng ở Trung Quốc, đã có tới 80 thành phố lớn nhỏ phát triển theo hướng này. Thủ đô Soul (Hàn Quốc) cũng đã có những cải cách giãn dân cư về các vùng nông thôn xung quanh, và gần đây, thành phố này cũng đưa ra những nguyên tắc xây dựng đô thị sinh thái. Điển hình là

Curitiba một thành phố sinh thái của Brazin, nằm cách Rio de Janeiro 300km về phía Nam. Thành phố là một tấm gương điển hình về công cuộc đổi mới nhờ sự cố gắng cải tạo lại hệ thống giao thông công cộng và biến thành phố thành một nơi dễ chịu đối với người đi bộ và đi xe đạp nhằm giảm ô nhiễm không khí do giao thông. Ngoài ra các chương trình tái chế chất thải, giáo dục môi trường cũng đã và đang được thực hiện, mang lại cho thành phố một diện mạo mới. Một số biện pháp được áp dụng chủ yếu cho giao thông ở Curitiba:

–  Mỗi ngày có 1,3 triệu lượt khách sử dụng xe buýt thành phố, một hệ thống nhanh nhất và rẻ nhất ở Brazin.

–  Hệ thống giao thông dành cho xe đạp, nguời đi bộ được mở rộng và nâng cấp.

–  Hạn chế tham gia giao thông ở một số đường phố nhất định, một số đường phố khác có quy định giới hạn tốc độ, do đó tỷ lệ tai nạn giao thông ở đây thấp nhất Brazin.

–  Diện tích không gian xanh/đầu người tăng lên 100 lần trong vài năm; lượng xăng dầu tiêu thụ tính theo đầu người thấp hơn 30% so với mức trung bình của các thành phố khác ở Brazil! [18].