Đánh giá tác động môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam

ĐMC VÀ ĐTM Ở VIỆT NAM

Khái niệm

Đánh giá môi trường chiến lược và Đánh giá tác động môi trường là khái niệm mới ở Việt Nam. Từ trước đến nay, chúng ta thường quen với khái niệm đánh giá tác động môi trường.

Thông thường, các đánh giá tác động môi trường ở Việt nam và trên thế giới chỉ dành riêng cho việc phân tích dự án và ĐTM ở cấp dự án nhiều hơn là áp dụng cho chính sách và chương trình. Điều đó làm cho người ta khó xem xét các vấn để lớn, mang tính chất cơ bản, những vấn đề có thể có những hậu quả lớn đối với chất lượng môi trường và có ảnh hưởng lớn tới các định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Từ khi có Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005, Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006, Nghĩ định số 140/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006, Thông tư số 08/2006/TT – BTNMT ngày 08/9/2006 của Bộ Tài nguyên Môi trường Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường thì những khái niệm trên mới được làm rõ, ranh giới giữa ĐMC và ĐTM mới được xác định.

Theo luật Bảo vệ môi trường 2005

–   Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững.

–   Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó.

Theo Nghị định số 140/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006

Để có thể ĐMC của các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế — xã hội được hiệu quả, cần nắm vững một số khái niệm cơ bản sau đây:

a. Chiến lược phát triển là hệ thống các chủ trương phát triển kinh tế — xã hội quốc gia ở tầm tổng thể, toàn lực, cơ bản và dài hạn; phản ánh hệ thống các quan điểm, mục tiêu phát triển cơ bản, phương thức và các giải pháp lớn về phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ dài hạn của đất nước.

b. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng, lãnh thổ là luận chứng phát triển kinh tế – xã hội và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế – xã hội hợp lý trên vùng, lãnh thổ nhất định trong một thời gian xác định.

c. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực là luận chứng lựa chọn phương án phát triển và phân bố ngành, lĩnh vực hợp lý trong thời kỳ dài hạn trên phạm vi cả nước và trên các vùng, lãnh thố.

d. Vùng kinh tế trọng điểm là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia gồm một số tỉnh, thành phố hội tụ được các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước.

đ. Kế hoạch phát triển là việc xác định một cách có hệ thống những hoạt động nhằm phát triển kinh tế – xã hội theo những mục tiêu, chỉ tiêu trong một thời gian nhất định. Kế hoạch bao gồm những chỉ tiêu, biện pháp, cơ chế và chính sách nhằm thực hiện những mục tiêu đã được đặt ra trong kỳ kế hoạch.

e. Chương tnh phát triển là tập hợp các đối tượng đầu tư được thực hiện theo một kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục tiêu nào đó. Chương trình phát triển bao gồm một số dự án có quan hệ mật thiết với nhau về phương diện triển khai thực hiện, khai thác, sử dụng để đạt được mục tiêu chung của chương trình.

f. Dự án phát triển là tập hợp các đối tượng được đầu tư bằng nhiều nguồn lực để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định, làm biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc nâng cao chất lượng của đối tượng được đầu tư trong khoảng thời gian xác định.

g. Sản phẩm chủ yếu là những sản phẩm có ý nghĩa quyết định lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Các mức đánh giá tác động môi trường

Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 có 3 mức đánh giá:

–   Đánh giá môi trường chiến lược được áp dụng cho chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

–    Đánh giá tác động môi trường các chương trình, dự án phát triển cụ thể.

–   Cam kết bảo vệ môi trường được áp dụng đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các hộ gia đình và các đối tượng không thuộc Điều 14 và Điều 18 – Luật BVMT2005.

a) Đánh giá môi trường chiến lược

Đánh giá môi trường chiến lược được áp dụng đối vói chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia; các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước; Đánh giá môi trường chiến lược đối với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của vùng, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Quy hoạch sử dụng đất, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên mang tính chất liên vùng, liên tỉnh; Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm; Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh.

b) Đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường được áp dụng đối với chương trình, dự án phát triển cụ thể.

Trong ngành quy hoạch xây dựng, ĐTM được áp dụng cho các đồ án quy hoạch xây dựng từ quy hoạch chung đến quy hoạch chi tiết và các dự án đầu tư xây dựng công trình.

Dự án đầu tư xây dựng công trình có thể là cho một cụm công trình hoặc một công trình cụ thể. Ví dụ dự án đầu tư khu đô thị mới; dự án đầu tư xây dựng cải tạo và nâng cấp (có mở rộng hoặc không) khu đô thị cũ; dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp; dự án cải tạo nút giao thông và đường vành đai đô thị v.v…

c) Cam kết bảo vệ môi trường được áp dụng đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các hộ gia đình và các đối tượng không thuộc Điều 14 và Điều 18 – Luật BVMT 2005.