Cây xanh và mặt nước tác động đến môi trường

cây xanh

Cây cỏ thực vật là cơ sở của sự sống vì nó sản xuất ra dưỡng khí. Tán lá cây xanh ngăn cản gió, ánh sáng mặt trời, tạo bóng râm mát nên làm giảm bớt cường độ ánh sáng chiếu lên trái đất, đồng thời lấy năng lượng của mặt trời để quang hợp, do đó hạ thấp nhiệt độ không khí từ l°c – 3°c so với vùng không có cây xanh . Nhiệt độ mặt sân cỏ thường thấp hơn các sân khác 3° – 6°c. Mặt ngoài tường bao của ngôi nhà nên có trồng cây thì nhiệt độ sẽ thấp hơn không có cây xanh 4 – 5°c [14]. Sự chênh lệch giữa vùng có và không có cây xanh tạo nên sự thay đổi áp suất không khí. Vì vậy, tạo nên sự đối lưu không khí làm thông thoáng trong sạch, mát mẻ. Mặt khác tán lá, cành cây có khả năng ngăn chặn khói bụi bằng cách hấp thụ giữ bụi và nhờ nước mưa rửa sạch. Trong quá trình hô hấp và quang hợp, cây xanh bổ sung trong không khí và hấp thụ khí Cacbonic. Một số loài cây có khả năng tiết Phitonxit diệt vi khuẩn có hại trong không khí. Như vậy, rõ ràng là cây xanh có tác dụng tích cực cải tạo điều kện vi khí hậu và điều kiện vệ sinh đô thị che nắng hút bớt bức xạ mặt trời, hút bụi và giữ bụi, lọc sạch không khí, hút âm (giảm 30% âm thanh). Kết quả thục tế cho thấy rằng đường phố không có cây xanh thì mức ồn cao gấp 5 lần đường phố có cây xanh 2 bên, đồng thời còn tạo thẩm mỹ cho đô thị, tạo ra cảm giác màu sắc êm dịu trong môi trường đô thị nhất là các đô thị ở vùng nhiệt đới nóng bức. Những đô thị có nhiều cây xanh làm phong phú thêm phong cảnh tự nhiên, làm đẹp thêm các công trình kiến trúc, góp phần lấy lại sự cân bằng về tâm lý cho người dân đôthị [16], [22].

mặt nước

Nước trong các ao hồ suối đóng vai trò quan trọng không chỉ việc cung cấp nước cho con người và môi sinh vật khác mà còn góp phần tạo nên cảnh quan đô thị và cải tạo môi trường đô thị. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa mặt đất và mặt nước đa làm cho không khí đối lưu, làm sạch những không khí đã gây ô nhiễm. Nhiều kết quả quan trắc cho thấy rằng mặt nước có tác dụng hạ bức xạ nhiệt vùng ven sông 12%-14%, ven hồ 2%-4%, tăng độ ẩm tương đối 5%-12% và hạ nhiệt độ không khí mùa hè từ 2°C-4°C. Như vậy, mặt nước có tác dụng tích cực cải thiện mỏi trường đô thị ở 2 khía cạnh vệ sinh và mỹ quan đô thị, làm phong phú cảnh sắc thiên nhiên, hoà quyện với công trình kiến trúc.

Phát triển kinh tế xã hội, trình độ văn hoá và kỹ thuật ảnh hưởng đến môi trường đô thị.

a) Phát triển kinh tế xã hội

Hệ thống môi trường nói chung cung cấp cho hệ thống kinh tế xã hội những tài nguyên và những yếu tố để phục vụ cho quá trình phát triển. Ngược lại hệ thống kinh tế xã hội trả lại cho môi trường những dạng chất thái mà tự nhiên có khả năng và không có khả năng hấp thụ. Những chất thải mà tự nhiên không có khá năng hấp thụ được sẽ tồn tại trong môi trường và gây ô nhiễm môi trường. Do đó phát triển kinh tế xã hội và môi trường luôn tồn tại bên nhau và có mối quan hệ tương tác với nhau trong quá trình phát triển. Phát triển kinh tế xã hội tăng có nghĩa là sản phẩm làm ra càng nhiều và càng tiêu thụ nhiều hơn tài nguyên thiên nhiên. Như vậy, không có nghĩa là phải ngừng phát triển mà để thấy rõ phải phát triển một cách có thế duy trì và phù hợp với môi trường tức là phù hợp với khả năng chịu đựng của tự nhiên. Đối với các đô thị, sự phát triển kinh tế xã hội tác động đến môi trường đô thi khá rõ rệt bởi vì phát triển kinh tế xã hội có 2 mặt: tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực của nó là sản xuất phát triển, của cải vật chất hàng hoá của đô thị (nói chung) và của xã hội (nói riêng) tăng lên làm thay đối cuộc sống và bộ mặt của đô thị nhanh chóng, nhưng mặt tiêu cực của nó là càng phát triển sản xuất, càng làm ra nhiều sản phẩm thì càng tiêu thụ nhiều tài nguyên, đời sống của người dân đô thị càng cao, càng tiêu thụ hàng hoá nhiều và do đó càng thải ra môi trường nhiều chất thải hơn bởi vì sản phẩm kỹ thuật càng gia tăng, càng làm tiêu hao nhanh chóng các nguồn tài nguyên mà không hể được bù lại, thay vào đó con người bị rơi vào tình trạng ngập chìm trong rác rưởi và chất thải. Đó là loại ô nhiễm do giàu có xảy ra tại các nước công nghiệp hoá phát triển [4].

Mặt khác, kinh tế ở các đô thị càng phát triển càng làm cho chênh lệch về sức sống giữa đô thị và nông thôn càng lớn và do đó càng tạo nên dòng dịch cư từ nông thôn đến đô thị, từ các đô thị nhỏ đến các đô thị lớn … làm cho đô thị vốn đã đông đúc, chật chội lại càng đông đúc, chật chội hơn gây ra sự quá tải. Từ đó góp phần tạo nên các khu ở không hợp pháp, chiếm dụng không gian, rối loạn trật tự xã hội, dẫn đến hậu quả là môi trường đô thị bị đe doạ do bị ô nhiễm , bị khó khăn trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm, bị quá tải mạng lưới hạ tầng kỹ thuật, bị lấn chiếm không gian và phá hoại cảnh quan môi trường đô thị. Đây là loại ô nhiễm do nghèo đói. Hội nghị của Liên hiệp quốc về môi trường sống của con người họp 6/1972 ở Thụy Điển đã kết luận rằng: nguyên nhân của nhiều vấn để quan trọng về môi trường không phải do phát triển mà chính do hậu quả của việc kém phát triển.

Giữa phát triển kinh tế và điều kiện môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo đánh giá về mức thu nhập và sự công bằng xã hội trong vấn đề môi trường của World Bank (Ngân hàng thế giới) với các vấn đề môi trường đô thị, nó biểu hiện ở 3 khía cạnh:

–     Quan hệ giữa mức thu nhập và tải trọng ô nhiễm

–     Quan hệ giữa mức thu nhập và điều kiện môi trường đô thị

–     Quan hệ giữa khả năng quản lý – các yêu cầu đáp ứng bảo vệ môi trường đô thị và mức thu nhập.

Vấn đề quan hệ giữa mức thu nhập và tải trọng ô nhiễm.

Việc thiếu nước, thiếu điều kiện vệ sinh ngày càng nhiều ở nhóm thu nhập thấp, khí thải CO, và chất thải đô thị tăng theo mức thu nhập, nồng độ bụi lơ lửng tăng dần ở mức có thu nhập thấp, riêng khí SO, chỉ tăng lên ở mức thu nhập trung bình. Từ xu hướng này giúp chúng ta trong việc hình thành kế hoạch hành động môi trường.

Vấn đề quan hệ giữa khả năng quản lý, các yêu cẩu đáp ứng bảo vệ môi trường đô thị và mức thu nhập

Qua khảo sát 168 nước có mức phát triển kinh tế khác nhau cho thấy ở các nước phát triển có thu nhập cao) hầu như mọi khả năng đáp ứng bảo vệ môi trường đều đạt. Ngược lại ở các nước đang phát triển đa số (63 nước) rất ít khả năng đáp ứng được sự phát triển thành phố như ở bảng 2.1.

Ớ nước ta hiện nay nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường với nhiều thành phần đã có tác động trực tiếp đến môi trường đô thị. Xung lực của công cuộc đổi mới, chính sách mở cửa phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dã có những tác động trực tiếp, trước hết đến mọi mặt cua đô thị, những tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi bộ mặt kiến trúc, quy hoạch, giao thông, cuộc sống đô thị đang được bộc lộ nhiều vấn đề.

Như vậy, rõ ràng sự phát triển kinh tế xã hội tác động mạnh đến môi trường đô thị mà đặc biệt là môi trường thiên nhiên trong đô thị. Một khi mà nền kinh tế còn thấp kém sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường. Do đó phát triển kinh tế phải tương xứng với phát triển đô thị.

Bảng 2.1. Quan hệ giữa khá năng đáp ứng các vấn đề môi trường với mức thu nhập

 Cây xanh và mặt nước tác động đến môi trường 1