Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P6)

g) Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích

Đây là phương pháp sử dụng các kết quả phân tích và đánh giá tác động đến môi trường trên đây để đi sâu so sánh những lợi ích mà việc thực hiện hoạt động sẽ đem lại với những chi phí và tổn thất mà việc thực hiện dự án mang lại.

Trong phương pháp phân tích này lợi ích của một số hành động được đánh giá và so sánh với tổng chi phí mà xã hội phải gánh chịu.

–     Phương pháp do Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP)

đê xuất:

UNEP đã đưa ra trình tự để thực hiện như sau:

–   Liệt kê tất cả tài nguyên được chi dùng cho hoạt động, kể cả tài nguyên nhân lực. Liệt kê tất cả các phế thải kể cả phế thải có giá trị hoàn nguyên.

–   Xác định tất cả những hành động tiêu thụ hoặc làm suy giảm tài nguyên kể cả hoạt động sản xuất gây ô nhiễm. Liệt kê những khía cạnh có lợi cho tài nguyên nhưng chưa được xét đến trong hoạt động của dự án.

–   Diễn đạt các kết quả phân tích trên vào báo cáo ĐTM được thể hiện bằng bảng so sánh lợi ích và chi phí thường được sử dụng trong tính toán kinh tế.

–   Phương pháp do Viện Môi trường và Chính sách thuộc Trung tâm Đông -Tây đề xuất

Nội dung của phương pháp này như sau:

–    Tất cả các hoạt động phát triển đều được thực hiện trong những hệ thiên nhiên.

–   Xác định một cách định lượng những nhân tố của hệ thiên nhiên thuận lợi hoặc không thuận lợi cho hoạt dộng phát triển.

–  Đánh giá các nhân tố đó về ý nghĩa kinh tế bằng các bước phân tích Lợi ích – Chi phí

–   Tính toán lợi ích – chi phí. Đây chính là đánh giá tác động của dự án đến môi trường thiên nhiên như là những chi phí và lợi ích. Ước đoán những tổn hại về môi trường có thể xẩy ra, đồng thời ước đoán những chi phí để đền bù thiệt hại. Đem những tổn hại đó vào giá thành luận chứng của thiết kế hoạt động của dự án. Tiến hành tính toán lợi ích chi phí cho các phương án và so sánh.

Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P6) 1

Trong đó:

NPV – Lợi nhuận ròng ( Net Present Value);

Bt – Lợi ích thu được tại năm thứ t;

C0 – Chi phí tại năm đầu tiên;

Ct – Chi phí tại năm thứ t;

r – Hệ số chiết khấu theo thời gian;

m – Số năm hoạt động có hiệu quả của dự án.

Công thức trên đây chỉ là một phép tính kinh tế thuần tuý, điều chúng ta cần chú ý ở đây là: Hệ số chiết khấu r. Điều này có thể giải thích một cách tổng quát như sau:

Giá trị của đồng tiền thu được trong những năm hoạt động của dự án là khác nhau. Vì vậy muốn so sánh lợi ích cũng như chi phí của những năm đó chúng ta phải quy đổi nó về một thời điểm, chẳng hạn là thời điểm hiện tại. Hệ số chiết khấu chính là hệ số để đều chỉnh tỷ giá đó. Ví dụ chúng ta lấy hệ số chiết khấu r = 5% mỗi năm, thì nó có nghĩa là 1 đồng tiêu thụ trong năm tới chỉ có giá trị bằng 0, 95 đồng của năm nay. Hay nói một cách tổng quát hơn, nếu r là hệ số chiết khấu thì chúng ta định giá cho mỗi đồng tiền tiêu thụ trong năm tới đúng bằng lđ/ (1+r) của năm nay (r ở đây được xét theo quan điểm tỷ suất mà ở đó ta đã chiết khấu lãi suất của năm tới. ). Hoặc là, nếu đặt vấn đề theo cách khác thì 1 đồng tiêu thụ trong năm nay sẽ có giá trị bằng 1 đ X (1+r) của năm tới (r ở đây là tỷ suất mà sự tiêu thụ trong năm nay được ưa chuộng hơn trong tương lai.)

Việc lựa chọn hệ số chiết khấu phụ thuộc vào các yếu tố:

–     Hiệu suất đầu tư.

–     Chi phí cơ hội.

–     Chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước…

(Chúng ta sẽ nghiên cứu phần này kỹ hơn ở môn học Kinh tế môi trường).

h) Phương pháp mô hình toán học

Nội dung của phương pháp là xây dựng hoặc ứng dụng các mô hình toán học mô phỏng mối quan hệ giữa nguyên nhân (các hoạt động phát triển) và hậu quả (các biến đổi môi trường) để tính toán hay dự báo các tác động môi trường của dự án.

Đây là phương pháp hiện đại phát triển mạnh trong những năm gần đây. Phương pháp này đòi hỏi kiến thức liên ngành của nhiều chuyên gia và phải qua nhiều bước như xây dựng cấu trúc mô hình, phươg pháp mô phỏng toán học, hiệu chỉnh xác định thông số mô hình và cuối cùng là ứng dụng mô hình để đánh giá tác động môi trường.

Các loại mô hình toán học: có hai loại mô hình toán:

–   Mô hình kinh nghiệm: Phân tích, thống kê các số liệu quan trắc môi trường để tìm phương trình biểu thị mối tương quan giữa các thông số môi trường với các chỉ tiêu củacác hoạt động phát triển. Kết quả phân tích cho phép ta lập phương trình hoặc công thức kinh nghiệm để sử dụng trong tính toán và dự báo các tác động môi trường.

Đây là dạng mô hình toán đơn giản thuộc loại mô hình hộp đen thường được sử dụng trong thực tế khi phân tích tổng hợp kết quả quan trắc biến đổi môi trường của nhiều công trình đã có trong vùng để tham khảo sử dụng cho đánh giá các dự án phát triển mới.

–   Mô hình mô phỏng: được xây dựng dựa trên quan hệ và sự chuyển hoá giữa biến vào và biến ra và phương pháp mô phỏng các hệ động lực.

Động thái của các quá trình biến đổi của các nhân tố môi trường được diễn tả trong mô hình bằng các phương trình toán học phù hợp trên cơ sở chấp nhận một số giả thiết nhất định.

Phương pháp mô hình toán yêu cầu các chuyên gia có trình độ cao và điều kiện kinh phí cho phép. Chỉ những dự án quan trọng, có tiềm nãng gây ra những tác động đáng kể tới môi trường mới sử dụng phương pháp này.

Các loại mô hình toán có thể ứng dụng trong dự báo tác động môi trường của các dự án đầu tư có thể là (xem bảng 4.10).

Bảng 4.10. Các loại mô hình toán có thể ứng dụng trong dự báo tác động môi trường của các dự án đầu tư [5]

Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P6) 1