Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P4)

đ) Phương pháp ma trận

Phương pháp ma trận môi trường là phương pháp liệt kê các hành động của hoạt động phát triển với liệt kê những nhân tố môi trường có thể bị tác động vào một ma trận. Vì thế ta có thể coi phương pháp này là sự triển khai ứng dụng phương pháp lập bảng kiểm tra. Một bảng ma trận cũng là sự đối chiếu từng hoạt động của dự án với từng thông số hoặc thành phần môi trường để đánh giá mối quan hệ nhân – quả. Có hai loại ma trận:

Ma trận đơn giản:

Theo phương pháp này thì trục hoành ghi các hành động, trục tung ghi các nhân tố môi trường, hành động nào tác động đến nhân tố nào thì ta đánh dấu (x), nếu không thì thôi (bỏ trống). Phương pháp này cho phép ta xem xét nhiều số liệu trên một ma trận. Ví dụ về ma trận tác động môi trường đơn giản được trình bày ở bảng 4.5, bảng 4.6 .

Bảng 4.5. Ma trận đơn giản các tác động môi trường của nhà máy giấy Phoenix

Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P4) 1

(Nguồn: Lohani & Halim, 1983)[5]

 

Bảng 4.6. Ma trận đơn giản các tác động môi trường của dự án phát triển tài nguyên nước (PTTNN) [5]

Hoạt động

Nhân tố môi trường

Thùỷ

văn

nước

mặt

Thuỷ văn nước ngầm

Xói mòn lưu vực

Thủy

sản

lụt

Tái

định cư

Cảnh

quan

Đập, hồ chứa

++

+

++

++

++

++

+

Kênh tưới

0

+

0

+

0

0

0

Phát triển ven biển

0

+

0

++

0

0

+

Đào/đắp

++

0

0

+

+

0

0

Lát kênh

+

+

0

+

+

0

+

 

Phương pháp ma trận có định lượng:

Theo phương pháp này thì trên các ô của ma trận không những chỉ ghi có hay không tác động mà còn ghi mức độ và tầm quan trọng của tác động. Mức độ tác động có thể đánh giá bằng cách cho điểm. Thang điểm cũng đa dạng có thê từ 1 đến 3, từ 1 đến 5, từ 1 đến 10 hoặc từ 1 đến 100.

Bảng 4.7. Phương pháp ma trận có cho điểm theo mức độ và tầm quan trọng – dự án xây dựng đập Quae Yai (Thái Lan) của Leopold và một số tác giả [5Ị.

Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P4) 1

–  Phía trên đường chéo được cho điểm từ 1 đến 10 sẽ đánh giá quy mô của tác động. Quy mô của tác động được hiểu là độ rộng của tác động và được dựa vào số liệu đo đạc, tính toán.

–  Phía dưới đường chéo được cho điểm từ 1 đến 10 để đánh giá tầm quan trọng của tác động. Tầm quan trọng của tác động được hiểu là mức độ biểu thị của tác động dựa theo suy luận. Trên cơ sở cách làm của Leopold, các tác giả khác đã triển khai thêm nhiều cách tính khác nhau để có thể có được kết quả chi tiết hơn (bảng 4.7).

Theo ông Leopold, người lần đầu tiên đề xuất phương pháp này thì mức độ tác động được đánh gía theo 10 cấp. Không tác động thì được điểm 1, tác động nhiều nhất được điểm 10. Tầm quan trọng của tác động cũng được đánh giá theo 10 cấp. Hết sức quan trọng được điểm 10, ít quan trọng được điểm 1. Cách thực hiện như sau:

–     Nếu có tác động thì mỗi ô của ma trận được chia đôi theo đường chéo.

Cách tính ở đây như sau:

–    Theo phương pháp của Leopold thì lấy mức độ tác động cộng với nhau và tầm quan trọng cũng cộng với nhau ta được tổng của mức độ tác động với tống của tầm quan trọng các tác động đó theo cả hàng dọc và theo hàng ngang.

–    Theo phương pháp của Lohani và Nguyễn Công Thành thì chúng ta lấy mức độ tác động nhân với tầm quan trọng sau đó cộng các kết quả lại theo hàng dọc và theo hàng ngang.

Ưu điểm:

–     Phương pháp này tương đối đơn giản được sử dụng khá phổ biến.

–     Không đòi hỏi quá nhiều số liệu về môi trường, sinh thái.

–   Có thể xem xét, phân tích cùng lúc tác động của nhiều hành động khác nhau lên cùng một nhân tố.

Hạn chế:

–   Phương pháp này chưa xét đến mối quan hệ qua lại giữa các tác động với nhau.

–    Chưa xét đến diễn biến theo thời gian của các tác động, chưa phân biệt được giữa tác động lâu dài với tác động tạm thời.

–     Việc đánh giá bằng điểm số còn mang tính cảm tính.

e) Phương pháp mạng lưới xác định các tác động

Phương pháp phân tích tác động theo mạng lưới được Sorensen thiết lập năm 1971. Quan điểm cơ bản của phương pháp này là: việc xác định một chuỗi các sự kiện hay hậu quả liên quan với từng hoạt động của dự án (mạng lưới: nguyên nhân – điều kiện và hậu quả). Trên cơ sở các hoạt động của dự án, phương pháp mạng lưới có thể xác định các tác động trực tiếp lên môi trường. Sau đó có thể sinh ra tác động bậc 2 và bậc 3 (tác động gián tiếp và tác động tích lũy) từ tác động trực tiếp .

Trình tự tiến hành:

–     Liệt kê toàn bộ các hành động trong hoạt động của dự án, xác định mối quan hệ nhân quả giữa những tác động đó với các nhân tố môi trường.

–     Nối các quan hệ của những hành động đó với nhau thành một mạng lưới. Trên mạng lưới có thể phân biệt được những tác động bậc 1 do một hành

động trực tiếp gây ra, rồi tác động bậc 2 do tác động bậc 1 gãy ra, rồi tác động bậc 3, bậc 4 … Các chuỗi tác động đó dẫn về tác động cuối cùng cho thấy hậu quả là có lợi hoặc có hại đối với môi trường.

Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P4) 1
 Hình 4.5. Sơ đồ mạng lưới tác động môi trường của nhà máy giấy [5] (dựa theo phương pháp Sorensen -Canada, 1971)

Ưu điểm:

–   Thể hiện được mối quan hệ nhân quả và mối liên quan của nhiều hành động và tác động trên một mạng lưới.

–   Phương pháp này cho biết được nguyên nhân và con đường (cây cầu) dẫn tới những hậu quả tiêu cực đối với môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu, phòng tránh ngay từ đầu, từ khâu quy hoạch, thiết kế dự án.

Hình 4.5. là sơ đồ mạng lưới tác động môi trường của nhà máy giấy dựa theo phương pháp Sorensen

Hạn chế:

–  Hiện nay sơ đồ mạng lưới mới chỉ chú ý phân tích các khía cạnh tiêu cực.

–  Trên mạng lưới không thể phân biệt được tác động trước mắt và tác động lâu dài.

–  Phương pháp này thường chỉ dùng để đánh giá tác động môi trường đối với một dự án cụ thể mà không thích hợp đối với các chương trình hay kế hoạch phát triển dài hạn.