Các phương pháp ĐTM áp dụng trong ngành quy hoạch xây dựng (P2)

b) Phương pháp chập bản đồ

Phương pháp chập bản đồ dựa trên cơ sở của hệ thống thông tin địa lý (GIS) là công cụ quan trọng, có thể hỗ trợ tốt cho quá trình đánh giá, phân tích môi trường vùng quy hoạch xây dựng.

Tuỳ thuộc vào quy mô, đặc điểm và tính chất công trình; yêu cầu của giai đoạn thiết kế; yêu cầu về ĐTM đối với dự án mà sử dụng các loại bản đồ khác nhau.

Các bản đồ có thể được chồng:

–      Bản đồ tổng hợp;

–      Bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng các công trình kiến trúc và kỹ thuật;

–      Bản đồ hiện trạng sử dụng đất; bản đồ quy hoạch sử dụng đất;

–      Bản đồ tài nguyên nước mặt, nước ngầm;

–      Bản đồ khoáng sản: các mỏ khoáng sản, trữ lượng và khả năng khai thác;

–      Bản đồ phân vùng nhạy cảm về môi trường;

–     Bản đồ phân vùng theo độ nhạy cảm sinh học (khu bảo tồn thiên nhiên; động vật hoang dã);

–      Bản đồ phân vùng theo độ nhạy cảm vật lý;

–      Bản đồ về các công trình văn hoá, di tích lịch sử;

Nội dung của phương pháp

Phương pháp chồng bản đồ bao gồm việc vẽ bản đồ trên giấy trong suốt các thành phần môi trường, xã hội và kỹ thuật theo độ nhạy cảm và ghép theo đơn vị.

–     Đơn vị sinh học: Chỗ ở của động vật, các khu bảo tồn động vật, thực vật, các loại động thực vật quý hiếm bị đe doạ; hệ thảm thực vật như: rừng, công viên, cây xanh. Đối với quy hoạch xây dựng đô thị, các đơn vị sinh học bao gồm: vườn hoa, công viên, khu du lịch sinh thái, các hành lang hay vành đai cây xanh, khu vơi chơi văn hoá thể thao, các dải cây xanh ven đường.

–      Thủy văn: hệ thống sông ngòi, ao hồ, biển (diện tích mặt nước).

–     Đơn vị xã hội: vùng đô thị; nơi nghỉ mát du lịch, đất nông nghiệp; khu vực khai thác mỏ, khai thác rừng.

–     Đơn vị kỹ thuật: Khu vực thường xuyên bị úng ngập, lụt lội, khu vực dễ bị xói mòn, khu vực có dòng bùn đá, lũ quét, cát chảy, hốc ngầm, mương sói, sụt lở, khu vực có sức chịu tải kém, vết lộ đá và đặc biệt là khu vực có hiện tượng động đất, núi lửa …

Người ta dùng các màu sắc khác nhau thể hiện đặc trưng cho mỗi đơn vị. Đồng thời, với các sắc độ của từng màu có độ đậm nhạt khác nhau để thể hiện cho độ nhạy cảm trong từng đơn vị. Ví dụ: màu nhạt biểu hiện cho vùng có độ nhạy cảm thấp, còn màu đậm là vùng có độ nhạy cảm cao, cần tránh khi xây dựng và bố trí công trình.

Việc chồng các lớp trong suốt các đơn vị môi trường cho phép chúng ta làm rõ các vùng có độ nhạy cảm khác nhau. Các vùng có độ nhạy cảm lớn cần phải tránh khi xây dựng và bố trí công trình. Ngược lại, các vùng có độ nhạy cảm yếu cho phép tiếp nhận dự án mà ít gây nhiễu loạn đến môi trường tiếp nhận. Do vậy, phương pháp chồng bản đồ giúp cho các thành phần kỹ thuật và thành phần môi trường được quan tâm hơn trong việc lập kế hoạch các dự án.

Ưu nhược điểm của phương pháp

Ưu thế của phương pháp này là làm dễ dàng cho việc phân tích một môi trường phức tạp, có nhiều thành phần môi trường. Tuy nhiên, phương pháp này có thể dễ dàng bỏ sót các thông tin quan trọng do việc đơn giản hoá bản thân môi trường. Hơn nữa, người ta phải cân nhắc rất nhiều khi phân loại, so sánh giữa các tiêu chí khác nhau. Như vậy, chỉ nên xếp thứ tự các thành phần môi trường có cùng tính chất (môi trường vật lý, môi trường sinh học, môi trường xã hội hoặc cảnh quan) rồi xếp chúng chồng lên nhau.